547 lượt xem

Hội chứng giảm đẻ trên gia cầm

Hội chứng giảm đẻ gia cầm (Egg Drop Syndrome – EDS) (hay còn được gọi là EDS’76) do một loại virus thuộc nhóm Adenovirus subgroup III gây bệnh ở gà. Virus này không có mối liên hệ nào về mặt huyết thanh học với các virus thuộc subgroup I và II. 

I. Nguyên nhân

  • Do chế độ dinh dưỡng không hợp lý
  • Bệnh thường xảy ra ở gà đẻ thương phẩm và gà giống giai đoạn từ 26 – 35 tuần tuổi
  • Bệnh có thể lây truyền từ đàn bố mẹ sang đàn con thông qua trứng nhiễm bệnh hoặc có thể lây từ gà bệnh sang gà khỏe thông qua thức ăn, dụng cụ chăn nuôi (máng ăn, máng uống,…), phượng tiện vận chuyển đã bị nhiễm khuẩn.
  • Lây truyền ngang: Hội chứng giảm đẻ gia cầm lây lan từ đàn gà bệnh sang đàn gà khỏe thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc lây lan gián tiếp qua thức ăn, dụng cụ chăn nuôi (máng ăn, uống…), phương tiện vận chuyển đã bị nhiễm
Chuồng gà
Máng ăn uống không hợp vệ sinh cũng là nguyên nhân mắc hội chứng giảm đẻ gia cầm

II. Triệu chứng

– Dấu hiện đầu tiên của bệnh là sự mất sắc tố trứng (  vỏ trứng bị mất màu ), rất nhanh sau đó trứng sẽ chỉ còn vỏ lụa hay có vỏ can-xi bị biến dạng.

Trứng có hiện tượng mất sắc tố, vỏ trứng bị mất màu
Vỏ trứng mất màu do bị mất sắc tố
Trứng chỉ còn lại vỏ canxi
Vỏ trứng móp méo biến dạng

– Tỉ lệ đẻ trứng ở đàn gà giảm đột ngột từ 20 – 40%, có khi lên đến 50
– Lòng trắng loãng
– Tỷ lệ ấp nở giảm 
– Gà bệnh vẫn ăn uống bình thường, có khi bị tiêu chảy nhất thời, mào gà có màu nhợt nhạt.

III. Bệnh tích

– Buồng trứng và ống dẫn trứng teo nhỏ 
– Tử cung bị viêm, phù thũng 
– Trứng non không phát triển

IV. Chẩn đoán phân biệt

Hội chứng giảm đẻ gia cầm rất dễ nhầm lẫn với bệnh viêm phế quản truyển nhiễm và bệnh rối loạn hấp thu canxi.
Viêm phế quản truyền nhiễm được phân biệt với Hội chứng giảm đẻ bằng các triệu chứng, bệnh tích đặc trưng: gà bệnh hay hắt hơi, thở khò khè, kém ăn, chậm lớn, lông cánh xơ xác, xuất huyết đường hô hấp trên và tích tụ urat ở thận.
Chứng rối loạn hấp thu canxi ở gà được phân biệt với Hội chứng giảm đẻ bằng các bệnh tích đặc trưng như :
+ Xương ống chân mềm và xốp, dễ gẫy.
+ Xương ức (ngực) bị vặn vẹo.
+ Xương sườn có những nốt u do sưng khớp giữa phần xương và phần sụn.

V. Phòng bệnh và trị bệnh

Vệ sinh phòng bệnh :

  • Vì virus lây qua trứng nên có thể áp dụng các biện pháp để phòng bệnh như: chọn gà giống từ những cơ sở giống chất lượng, không bị nhiễm virus, gà con phải được chọn từ những đàn gà được tiêm phòng cẩn thận
  • Đảm bảo vệ sinh phòng bệnh trong quá trình chăn nuôi, vận chuyển trứng, quá trình tiêm phòng. Vì virus có nguồn gốc từ vịt và ngỗng nên cần nuôi hai loài này cách xa khu nuôi gà
  • Nếu đàn gà bệnh và gà không bị bệnh được nuôi chung, cần tiến hành tách riêng rẽ trong quá trình chăn nuôi, ấp nở. Nếu có điều kiện nên sử dụng các máy ấp riêng rẽ, hoặc nếu không phải sử dụng các khay ấp nở riêng.

Phòng bệnh bằng Vắc-xin

Vacxin vô hoạt bổ trợ dầu được sử dụng rộng rãi để phòng EDS, dùng cho gà từ 14-16 tuần tuổi. Kháng thể sản sinh sau khi tiêm vacxin 7 ngày, đạt tối đa sau 2-5 tuần. Độ dài miễn dịch của vacxin là 1 năm

Trị bệnh

Hiện nay, đối với Hội chứng giảm đẻ ở gia cầm, người ta vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị. Vì vậy, phòng bệnh vẫn là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ đàn gà đẻ tránh khỏi nguy cơ mắc bệnh.

Để khắc phục hiện tượng giảm đẻ ở gà chúng ta có thể áp dụng phác đồ điều trị sau :

  • Điều chỉnh lại chế độ dinh dưỡng,bổ sung thêm: Đạm, Premix khoáng, vitamin tổng hợp, Tetra trứng,…vào khẩu phần thức ăn của gà liên tục 10-15 ngày.
  • Dùng DOXY 50 hoặc DOXY 75 trộn vào thức ăn buổi sáng , buổi chiều bổ sung FLOR 20 hoặc FLOR 30 trộn vào thức ăn 5-7 ngày .
  • Cho gà uống GLUCO KC, giải độc gan thận 10-15 ngày